Chùa Tây Phương, xây dựng trên núi Câu Lậu, thuộc xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, cách Hà Nội 37 km về hướng Tây, là một tác phẩm kiến trúc có tính tiêu biểu về một số phương diện.
Năm 1794, chùa xây dựng lại hoàn toàn mới, niên đại ra đời tính vào thời điểm đó. Trước đấy, cũng trên đỉnh Câu Lậu này, Cao Biền đã xây ngôi chùa Tây Phương nguyên thủy (865-873) và trị tạp sửa sang (1657-1682).
Chùa Tây Phương còn có tên gốc là Sùng Phức Tự và Hoàng Sơn Thiếu lâm tự.
Chùa đặt trên đỉnh núi cao 50m, muốn lên đến cổng chùa phải vượt được 239 bậc xây đá ong. Câu Lậu là núi chính, nó dẫn đầu một loạt các núi đồi chạy lô xô về cùng một hướng, tụ điểm tại xã Thạch Xá.
Chùa có ba tòa nhà chính, đặt cách nhau 1,6m hình thành một nhịp điệu bởi ba đơn thể rất giàu sức truyền cảm. Tòa bái đường phía trước và tòa hậu cung phía sau có chiều dài lớn hơn, với năm bước nhà, nhưng lại có chiều ngang, với nhịp nhà bé hơn tòa chính diện ở giữa. Vì vậy hình thành một nhịp điệu kiến trúc, một sự vận động nội tại mạnh mẽ.
Nhà xây kiểu trồng diêm, hai tầng tám mái, khu gỗ chịu lực, tường ngoài xây gạch Bát Tràng để trần tạo thành một không khí rất thô mộc, cột nhà cao hơn thì đường kính lớn hơn, hợp lý về chịu lực, hài hòa về kiến trúc, tất cả đều đặt trên các tảng đá xanh.
Những chi tiết kiến trúc, trang trí trước hết là những đầu đao giàu sức khái quát, khả năng truyền cảm. Những đầu mái cong hay còn gọi là “Những đóa hoa đao đình” đặc biệt rộn rã, bay bổng, nó đưa ra không thật xa và đồ sộ như những mái đình, nhưng vươn lên thật cao tới 2,2 m, nên tính phóng khoáng rất mạnh, còn tính hoành tráng chỉ vừa đủ ở một liều lượng nhất định. Giá trị của mái cong đầu đao – theo một số nhà kiến trúc – thể hiện ở sự kết hợp giữa hai loại vật liệu chính là gỗ (gỗ súc, gỗ mỏng, gỗ thanh) và đất nung (ngói lợp và ngói chiếu).
Đó chính là những cơ sở để tạo nên những đốt khấc hay bờ cong cần thiết. Các vì, xà, diềm mái chạm khắc chim muông, hoa lá, triện cuốn đặc biệt công phu, các cửa sổ tròn về hình thức kiến trúc độc đáo và chính xác “không điều chỉnh đựợc nữa”; về triết lý nhà Phật là “bán âm bán dương”, “sắc sắc không không”.
Hệ thống cửa gỗ lấy ánh sáng ở đây cũng đã tạo được một khung cảnh thoát tục, mơ màng; chỉ cách một hàng cửa gỗ phía trước, một bức tường gạch cạnh bên, ranh giới của cõi trần và thế giới Phật đã khác biệt rõ ràng. Hiệu quả kỳ ảo, phân tán đều, soi tỏ các tượng Phật và chi tiết kiến trúc bên trong ở đây là kết quả của việc “lọc” bớt đi độ mạnh của cách chiếu sáng thông thường bằng việc dùng ánh sáng phản xạ hắt từ mặt đất lên. Ngói lợp dùng hai lớp – ngói lót hình vuông ở dưới và lớp ngói mũi hàng ở trên đều có quá trình sản xuất và thi công với những yêu cầu riêng.
Khả năng phù trợ của nghê thuật tạo hình – chủ yếu là điêu khắc tượng tròn - ở chùa Tăy Phương đối với kiến trúc rất lớn. Đó là môt bộ phận hữu cơ của ngôi chùa, gồm trên 70 pho tượng nay còn 64 pho, trong đó có rất nhiều tác phẩm quan trọng của điêu khắc Việt Nam cuối thế kỷ XVIII như tượng Tuyết Sơn, tượng La Hầu La, các vị La Hán,… Trong một số pho tượng, chẳng hạn tượng Tuyết Sơn, yếu tố “dời” hình như đã lấn án yếu tố “đạo”, tác phẩm điêu khắc tuyệt vời này “rất giống vị sư tổ năm xưa” đã đến thăm nơi đây.
Chùa Tây Phương, nhìn từ những góc độ nói trên, đã là một bức thông điệp khá đầy đù về điều kiện xã hội, quan điểm sống, hoàn cảnh xây dựng, trình độ và kĩ xảo xây dựng của con người Việt Nam cách đây chỉ thiếu mấy năm sẽ tròn hai thế kỷ.
Kiến trúc sư
ĐẶNG THÁI HOÀNG
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|
- Đình Tây Đằng và Đình Chu Quyến (13/10/2008)
- Chùa Keo (13/10/2008)
- Chùa Bút Tháp (13/10/2008)
- Tháp Bình Sơn (13/10/2008)
- Đình Đình Bảng (13/10/2008)
- Tháp Phổ Minh (13/10/2008)
- Chùa Một Cột (13/10/2008)
- Trà - biểu tượng của văn hóa giao tiếp phương Đông (13/10/2008)
- Văn hóa ảnh hưởng đến chức năng của não (13/10/2008)
- Hội Lùng Tùng của người Tày - Nùng (13/10/2008)



