
Thần đạo (Shinto), tôn giáo bản địa đầu tiên của người Nhật Bản khởi đầu với
khái niệm “kami” là những gì siêu việt và tồn tại trong thiên nhiên như những
năng lực sáng tạo. Đó là quyền lực thiên nhiên có trong con người và có trong
cây cỏ, sông núi … “Thần đạo trong yếu tính của nó, là tôn thờ kami như thiên
nhiên và tôn thờ thiên nhiên như kami” [Lương Duy Thứ, 239]. Tình yêu thiên
nhiên là nền tảng hình thành những triết lý trong tín ngưỡng Thần đạo và những
triết lý này càng khắc sâu tình yêu thiên nhiên vào tâm thức con người Nhật Bản.
Người Nhật Bản thần hóa các yếu tố thiên nhiên như mặt trời, ngọn núi, cái cây
và trực tiếp thờ phụng những cái đó. Người Nhật tự nhận mình là con cháu của nữ
thần mặt trời. Từ xa xưa, người Nhật bản đã xem đỉnh núi Fuji - ngọn núi cao nhất
và đẹp nhất Nhật Bản - là núi thiêng, thậm còn có người sùng bái nó như một vị
thần. Tu sĩ Watanabe Shin tại đền thờ Fuji-san Hongu Sengen đã đưa ra lời
khuyên “Nếu bạn đến đây, hãy nhớ uống nước từ những con suối tự nhiên, bạn sẽ
thực sự cảm nhận được ân huệ của tạo hóa”
2. Tình yêu thiên nhiên
Tình yêu thiên nhiên của người Nhật không chỉ thể hiện qua nhu cầu tìm đến với
thiên nhiên mà còn trong mong muốn mang thiên nhiên vào cuộc sống hàng ngày.
2.1 Nhu cầu thưởng thức thiên nhiên
Ở Nhật Bản, thưởng thức thiên nhiên là một nhu cầu mang tính cộng đồng chứ
không còn giới hạn trong sở thích của từng cá nhân. “Luôn khám phá cái đẹp cùng
với sự gần gũi với thiên nhiên là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của thơ ca
và hội họa … trong văn hóa Nhật Bản” [Đỗ Lộc Diệp, 2003, 347]. Người Nhật có những
lễ hội nhằm thoả mãn nhu cầu thưởng thức cảnh quan tươi đẹp của thiên nhiên
trong đó nổi bật nhất là hai lễ hội: hana-mi (ngắm hoa đào mùa xuân) và
Momiji-kari (ngắm cây thích). Mùa xuân là mùa hoa anh đào nở vào mùa xuân. Khi
gần đến thời điểm hoa anh đào nở rộ thì các gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
cũng đã sẵn sàng cho các cuộc dã ngoại dưới hoa. Mỗi người đều mang theo một
món ngon gì đó đến cuộc vui này để cùng liên hoan với nhau. Ta có thể thấy tầm
quan trọng của hana-mi qua vốn từ vựng phong phú liên quan đến sự kiện này:
hatsu-hana (lúc khai hoa), hoặc hatsu-zakura (những hoa anh đào đầu tiên),
hana-mi bento (hộp cơm trưa phục vụ cho các cuộc vui ngắm hoa anh đào), hana-mi
sake (rượu uống khi ngắm hoa anh đào), hana-goromo (trang phục dành cho dịp
này). Khi mùa thu đến, lá cây thích chuyển sang sắc vàng, sắc đỏ. Người Nhật lại
nô nức đến những thắng cảnh nổi tiếng để được ngắm nhìn màu sắc mùa thu trên
các cành cây. Người Nhật gọi dịp này là Momiji-gari

2.2 Sự mô phỏng thiên nhiên
Tình yêu thiên nhiên được thể hiện trong sự mô phỏng thiên nhiên. Trà đạo, nghệ
thuật cắm hoa, kiến trúc vườn và nhiều loại hình nghệ thuật khác thể hiện cách
nhìn thiên nhiên của người Nhật. Bản chất của nghệ thuật này là sự mô phỏng thu
nhỏ thiên nhiên như nó vốn có . [Nakayama Kaneyoshi, 2005, 110]. Thiên nhiên xuất
hiện trên sân kịch Noh qua hình ảnh cây thông xanh, qua những âm thanh phụ họa
mô phỏng tiếng sấm, tiếng mưa, tiếng sóng vỗ hay hình ảnh cây anh đào, cây tre
trên sân khấu kịch Kabuki.
3. Ước vọng sống hài hòa với tự nhiên
Nhìn từ góc độ gốc văn hóa, ta có thể thấy thiên nhiên có vai trò hết sức quan
trọng với những cư dân nông nghiệp lúa nước. Cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều
vào những biến đổi của môi trường tự nhiên. Vì vậy người Nhật Bản cũng như những
cư dân của các nền văn hóa gốc nông nghiệp khác trong tâm thức đều mong muốn sống
hòa hợp với tự nhiên. “Hòa mình và đồng nhất với thiên nhiên là xúc cảm tiềm ẩn
trong cội nguồn đời sống tinh thần của người Nhật Bản”. [Nakayama Kaneyoshi,
2005, 12]. Người Nhật Bản “sống trong thiên nhiên và thiên nhiên sống trong họ
trong một mối giao tình và hòa điệu thâm sâu” [Nhật Chiêu, 1997, 13]
Không có một sự đối nghịch hay phân ranh nào giữa con người với thế giới tự
nhiên. “Tinh thần hợp tác, chứ không phải là mối quan hệ đối kháng được phát
triển giữa người Nhật và môi trường tự nhiên xung quanh” [Eiichi Aoki, 2006,
380] .Người Nhật tin tưởng rằng có những năng lực kỳ diệu đang lưu chuyển trong
thiên nhiên và lưu chuyển trong bản thân họ. Trong nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản
(Ikebana) thiên nhiên và người cắm hoa hoà thành một. Sự hài hoà của yếu tố
thiên - địa – nhân về bản chất là tính nghệ thuật thật sự của Ikebana.

Ước vọng sống hài hòa với thiên nhiên thể hiện rõ nét nhất trong sự chú trọng đến
những chuyển đổi mùa trong năm. Do yêu cầu của họat động nông nghiệp cùng với
thực tế khí hậu chia thành bốn mùa rõ rệt, người Nhật Bản rất chú trọng đến sự
thay đổi mùa trong năm. “Câu hỏi đầu tiên mà người Nhật thường tự hỏi một cách
vô thức khi đánh giá bất kỳ thứ gì là ‘nó thuộc về mùa nào?’” [Frosco Maraini,
1971, 68]. Sự quan tâm này thể hiện rõ nét trong ẩm thực, trang phục, thi ca,
sân khấu … Món ăn được chuẩn bị và bài trí theo mùa. Kimono phản ánh sắc màu
thiên nhiên của từng mùa. Một trong những luật thơ của thể lọai thơ Haiku nổi
tiếng là phải có yếu tố chỉ một mùa trong năm, có thể không nhất thiết phải nói
tên mùa, nhưng phải có từ ngữ liên quan hoặc trực tiếp gợi tả mùa.
III. Thiên nhiên trong văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Nhật
Tình yêu thiên nhiên được thể hiện hết sức rõ nét và độc đáo trong cách người
Nhật ứng xử với môi trường. Những biểu hiện của tình yêu thiên nhiên như: chú
trọng đến sự chuyển đổi mùa trong năm, mô phỏng thiên nhiên, khát vọng sống hòa
hợp với thiên nhiên đều được phản ánh trong ẩm thực, trang phục và kiến trúc Nhật
Bản
| Tiếp theo > |
|---|
- Kiến trúc người Nhật (10/08/2010)
- Ẩm thực và nghệ thuật tạo món ăn ngon của người Nhật (10/08/2010)
- Tiếp cận văn hóa công ty nước ngoài (10/08/2010)
- Văn hóa Nhật Bản (09/08/2010)
- Hình ảnh ông già Noel (12/12/2009)



