x
Hệ
thống Trắc nghiệm Anh ngữ Quốc tế (gọi tắt là IELTS) được công nhận
rộng rãi như là một phương tiện đáng tin cậy để đánh giá liệu thí sinh
đã sẵn sàng để học tập hoặc đào tạo trong môi trường tiếng Anh hay chưa.
Ủy
ban Đặc trách Thi cử Cục bộ của Đại học Cambridge, Hội đồng Anh, và Cơ
quan Giáo dục Úc (thông qua công ty chi nhánh IELTS Australia Pty
Limited) là ba đối tác tổ chức IELTS. Mục đích chính của quyển sách Bài
thi Thực hành này nhằm giúp cho những thí sinh dự định thi IELTS hiểu
được trình độ Anh ngữ của mình đã đáp ứng được yêu cầu về IELTS hay
chưa. Bạn có thể tìm thêm thông tin về IELTS trong Sổ tay IELTS cung
cấp miễn phí tái các trung tâm tổ chức thi IELTS.
DẠNG BÀI THI NHƯ THẾ NÀO?
IELTS gồm sáu phần. Mọi thí sinh đều phải thi phần Nghe và Nói giống
nhau. Trong phần Đọc và Viết, thí sinh có thể lựa chọn dự thi theo
trình độ Học thuật hoặc Trình độ Đào tạo Phổ thông.
|
Trình độ Học thuật
Dành cho những thí sinh dự thi để vào học ở trình độ Đại học hoặc sau Đại học, hoặc vì những lý do nghề nghiệp |
Trình độ Đào tạo Phổ thông
Dành cho những thí sinh dự thi để theo học một chương trình đào tạo
hoặc hướng nghiệp không trình độ, để được nhận vào học tại các trường
phổ thông cơ sở và vì những mục đích di cư |
Các phần thi theo trình tự như sau
|
Bài thi Nghe
4 phần, 40 câu hỏi
30 phút |
|
Bài thi Đọc trình độ học thuật
3 phần, 40 câu hỏi
60 phút |
HAY |
Bài thi Đọc Trình độ Phổ thông
3 phần, 40 câu hỏi
60 phút |
|
Bài thi Viết trình độ học thuật
2 đề bài
60 phút |
HAY |
Bài thi Viết trình độ Đào tạo phổ thông
2 đề bài
60 phút |
|
Nói
10 đến 15 phút
Thời gian thi tổng cộng
2 giờ 45 phút |
Phần thi Nghe
Gồm bốn phần,. mỗi phần 10 câu hỏi. Hai phần đầu tiên có liên quan đến
những nhu cầu xã hội. Gồm một bài đối thoại giữa hai người và sau đó có
một bài độc thoại. Hai phần sau liên quan đến những tình huống có liên
quan đến ngữ cảnh giáo dục hay đào tạo. Gồm một bài đàm thoại nhiều
nhất là bốn người, sau đó là một bài độc thoại
Sử dụng nhều dạng câu hỏi khác nhau, gồm trắc nghiệm, câu hỏi trả
lời ngắn, hoàn chỉnh câu, hoàn chỉnh ghi chú/đồ thị/ biểu đồ, đánh nhãn
cho mỗi sơ đồ, phân loại, nối các phần tương ứng.
Thí sinh nghe đoạn ghi âm một lần duy nhất và trả lời các câu hỏi
trong khi nghe. Sau đó thí sinh có mười phút để viết câu trả lời lên tờ
trả lời.
Phần thi Đọc Trình độ Học thuật
Gồm ba bài đọc, mức độ khó tăng dần, về những chủ đề tổng quát và
các thí sinh phải trả lời 40 câu hỏi. Các bài đọc này được trích từ các
tạp chí và sách báo. Có ít nhất một bài đọc gồm lập luận logic rất chi
tiết.
Sử dụng nhiều dạng câu hỏi khác nhau, gồm trắc nghiệm, câu hỏi trả
lời ngắn, hoàn chỉnh ghi chú/đồ thị/biểu đồ, đánh nhãn cho mỗi sơ đồ,
phân loại, nối các liệt kê/ cụm từ tuowng ứng, chọn tiêu đề thích hợp
cho đoanj văn từ một liệt kê, nhận biết quan điểm/ thái độ của những
người viết: có, không, không đưa thông tin.
Phần thi Trình độ Đào tạo Phổ thông
Thí sinh phải trả lời bốn mươi câu hỏi. Gồm ba phần với mức độ khó
tăng dần, gồm những bài khóa được trích từ thông báo, quảng cáo, tờ
bướm, báo, sổ tay, sách và tạp chí. Phần đầuliên quan đến việc cung cấp
những thông tin thực tế. Phần thứ hai tập trung vào ngữ cảnh đào tạo và
gồm những bài có mức độ ngôn ngữ phức tạp hơn. Phần thứ ba gồm những
bài đọc mở rộng hơn, với cấu trúc phức tạp hơn, những nhấn mạnh đến
những bài miêu tả hoặc thông tin hơn là nghị luận.
Sử dụng nhiều dạng câu hỏi khác nhau, gồm: trắc nghiệm, câu hỏi trả
lời ngắn, hoàn chỉnh câu, hoàn chỉnh ghi chú/ đồ thị/ biểu đồ, đánh
nhãn cho mỗi sơ đồ, phân loại, nối các liệt kê/ cụm từ tương ứng, chọn
tiêu đề thích hợp cho đoạn văn từ một liệt kê, nhận biết quan điểm/
thái độ của những người viết - có, không, không đưa thông tin hoặc
đúng, sai, không đưa thông tin.
Phần thi Viết Trình độ Học thuật.
Gồm hai đề bài. Thí sinh nên dành khoảng 20 phút đối với Đề 1, đề
này yêu cầu thí sinh viết ít nhất là 150 từ và 40 đối với đề 2 - khoảng
250 từ. Điểm đánh giá của Đề 2 quan trọng hơn Đề 1.
Trong Đề 1, các thí sinh được yêu cầu nhìn vào sơ đồ hoặc bảng biểu
và trình bày các thông tin theo ngôn ngữ riêng của mình. Thí sinh được
đánh giá trên khả năng tổ chức, trình bày và có thể so sánh dữ liệu,
miêu tả những bước tiến triển, miêu tả một vật hoặc một sự kiên, giải
thích cách thức hoạt động của một đối tượng nào đó.
Trong Đề 2, thí sinh được giới thiệu một quan điểm, một lập luận
hoặc một vấn đề. Họ được đánh giá trên khả năng đưa ra một giải pháp
cho vấn đề đó, trình bày và bảo vệ một ý kiến, so sánh và đưa ra những
dẫn chứng và ý kiến tương phản, đánh giá và phản bác ý kiến, dẫn chứng
hoặc luận cứ.
Thí sinh cũng được đánh giá dựa trên khả năng viết theo một phong cách phù hợp.
Phần thi Nói
Phần này gồm một cuộc đối thoại giữa thí sinh và vị giám khảo, diễn ra trong vòng khoảng 15 phút. Có năm phần:
1. Giới thiệu
Vị giám khảo và thí sinh tự giới thiệu về mình và thí sinh được
khuyến khích nói vắn tắt về cuộc sống, gia đình, công việc và sở thích
của mình.
2. Bài nói mở rộng
Thí sinh được khuyến khích nói cụ thể về một đề tài quen thuộc
thường được quan tâm nào đó hoặc có liên quan đến nền văn hóa, nơi sinh
sống hoặc quê hương của mình. Đòi hỏi thí sinh phải giải thích, miêu tả
hoặc tường thuật.
3. Suy luận
Thí sinh nhận được một tấm thẻ có một số thông tin hướng dẫn, ngoài
ra thí sinh được khuyến khích chủ động và đặt câu hỏi để lấy thông tin
hoặc để giải quyết một vấn đề.
4. Suy xét và quan điểm
Thí sinh được khuyến khích nói về những kế hoạch tương lai và những
khóa học dự định của mình. Vị giám khảo có thể lựa chọn để quay lại một
đề tài đã được đưa ra trước đó.
5. Kết luận
Kết thúc cuộc phỏng vấn
Thí sinh được đánh giá dựa trên khả năng giao tiếp hiệu quả với
người nói tiếng Anh bản ngữ. Việc đánh giá sẽ ghi nhận lại bằng chứng
về những kĩ năng giao tiếp và cách sử dụng văn phạm và từ vựng thích
hợp.
IELTS được chấm điểm như thế nào?
IELTS cung cấp cho bạn sơ lược về khả năng sử dụng tiếng Anh. Kết
quả bài thi IELTS của bạn sẽ bao gồm điểm số của 4 phần thi của bạn
(nghe, đọc, viết, nói) và được tính trung bình để đưa ra số điểm tổng
quát hay số điểm cuối cùng. Bài làm của bạn sẽ được xếp loại theo thang
điểm từ 1 đến 9. Chín cấp điểm tổng quát đó được mô tả như sau:
9 Thông thạo - trình độ thông thạo về ngôn ngữ một cách đầy
đủ, thích hợp, chính xác và trôi chảy với khả năng hiểu biết hoàn
chỉnh.
8 Rất giỏi - Có trình độ thông thạo về ngôn ngữ đầy đủ, chỉ
có một số ít lỗi về cách dùng không thích hợp hoặc không chính xác. Sự
hiểu lầm đôi khi xảy ra trong những tình huống ít được sử dụng. Vận
dụng tốt những lập luận chi tiết phức tạp.
7 Giỏi - Có một trình độ thông thạo về ngôn ngữ, mặc dù
thỉnh thoảng trong một số tình huống sử dụng từ không thích hợp, chính
xác, và hiểu sai nghĩa. Nói chung là biết vận dụng tốt những ngôn ngữ
phức tạp và hiểu được những lý giải chi tiết.
6 Được - Sử dụng ngoại ngữ nói chung là có hiệu quả mặc dù,
cách dùng từ vẫn chưa chính xác, không phù hợp hoặc hiểu sai nghĩa từ.
Có thể sử dụng và hiểu được những ngôn ngữ phức tạp, đặc biệt là trong
tình huống phức tạp.
5 Tạm được - Trình độ sử dụng ngoại ngữ chưa hoàn chỉnh,
nắm được hầu hết ý nghĩa trong các tình huống, mặc dù hay bị mắc nhiều
lỗi. Có thể thực hiện việc giao tiếp căn bản trong phạm vi của mình.
4 Hạn chế - Khả năng ngôn ngữ chỉ trong phạm vi ở một số
tình huống quen thuộc. Thường hay bị mắc lỗi trong việc hiểu và diễn
đạt. Không thể sử dụng những ngôn ngữ phừc tạp.
3 Rất hạn chế - Cách truyền đạt và hiểu nghĩa từ chỉ trong
những tình huống rất quen thuộc. Thường hay xảy ra những sai sót trong
giao tiếp.
2 Rời rạc - Không thể thực hiện được tình huống giao tiếp
thực sự nào ngoại trừ tình huống căn bản nhất bằng việc sử dụng những
từ ngữ rời rạc và cấu trúc ngắn trong những tình huống quen thuộc và
những nhu cầu nhất thời.
1 Không có khả năng - Thực chất không có khả năng sử dụng
ngôn ngữ ngoại trừ việc có thể sử dụng một số ít từ ngữ rời rạc
0 Không dự thi - Không có thông tin đánh giá
Hầu hết các trường Đại học ở Anh, Úc, New Zealand và Canada chấp
nhận các thí sinh đạt điểm tổng quát 6 hoặc 6.5 để được theo học các
chương trình ở trình độ học thuật. Điểm số IELTS ngày càng được chấp
nhận rộng rãi ở Mỹ.